Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ tư 03/09/2014 01:48:05   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Sổ tay hướng dẫn thực hiện tiêu chí nước sạch tại các xã nông thôn mới 
 Sổ tay hướng dẫn quy trình phát triển quản lý tưới tiêu có sự tham gia của người dân - PIM (Phục vụ xây dựng nông thôn mới) 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 21 năm 2014 
 Danh mục sản phẩm Khoa học và công nghệ nổi bật của Viện 
 Tiêu chuẩn cơ sở thiết kế thi công và nghiệm thu kết cấu gia cố kênh bằng công nghệ ô ngăn hình mạng (NEOWEB) 
 
  Khoa học công nghệ  
Phân cấp Quản lý khai thác công trình thủy lợi ở Việt Nam
Phân cấp Quản lý KTCTTL là một trong những yêu cầu đảm bảo cho các hệ thống công trình thủy lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác. Trên cơ sở phân tích hệ thống tổ chức quản lý và thực tiễn phân cấp quản lý khai thác CTTL, bài viết đưa ra một số kiến nghị để thực hiện phân cấp quản lý khai thác nhằm nâng cao hiệu quả quản lý khai thác CTTL ở nước ta
 

Nhiều công trình thuỷ lợi ở nước ta hiện nay có hiệu quả tưới thấp. Nguyên nhân cơ bản đối với hiệu quả thấp ở các công trình thuỷ lợi là do yếu tố thể chế hơn là yếu tố kỹ thuật. Do vậy, cần phải tìm ra hệ thống thể chế, mô hình quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống tưới. Huppert và các cộng sự đã khuyến nghị việc quản lý công trình thuỷ lợi hiệu quả không chỉ đơn thuần là thiết kế một tổ chức quản lý thích hợp, mà cần phải tạo nên một mô hình gồm nhiều tổ chức khác nhau, được phân cấp nhiệm vụ và quyền lợi rõ ràng nhưng lại hoạt động và kết hợp với nhau trong một khung thể chế thống nhất phù hợp. Phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi là sự phân công trách nhiệm từ các cơ quan quản lý công trình thủy lợi Trung ương cho các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp dưới ở địa phương. Việc phân cấp quản lý cho các tổ chức quản lý địa phương là cơ sở để thực hiện chuyển giao trách nhiệm quản lý công trình thủy lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước thực hiện quan điểm, chủ trương của thế giới và trong nước về quản lý công trình thuỷ lợi. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy việc phân công, phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là cần thiết. Đây là một trong những yêu cầu đảm bảo cho các hệ thống công trình thuỷ lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá sản xuất nông nghiệp. Thực tế đòi hỏi phải tổ chức lại sản xuất theo hướng công ty không quản lý các công trình thuỷ lợi mà năng lực của cộng đồng có thể quản lý, để tinh giảm biên chế, giảm chi phí quản lý, tăng thu nhập, tạo điều kiện để củng cố và phát triển nguồn nhân lực nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.

Tổ chức quản lý khai thác công trình thủy lợi hiện nay

Theo số liệu của Cục Thuỷ lợi, hiện nay cả nước có 93 Công ty khai thác công trình thuỷ lợi (trong đó có 3 công ty liên tỉnh trực thuộc Bộ NN&PTNT, còn lại là các Công ty trực thuộc UBND cấp tỉnh), một số tổ chức sự nghiệp và hàng vạn Tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN). Trong những năm qua, tiếp tục thực hiện lộ trình sắp xếp, đổi mới hoạt động của doanh nghiệp các địa phương tiếp tục đổi mới, kiện toàn các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và củng cố tổ chức hoạt động của các tổ chức hợp tác dùng nước. Một số tỉnh đã kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Thừa Thiên Huế, Hà Giang, Bắc Cạn, Phú Yên đã thành lập các Chi cục Thuỷ lợi hoặc kiện toàn về tổ chức như Quảng Ngãi. Các địa phương khác chưa có Chi cục Thuỷ lợi cũng đang trong quá trình xây dựng Đề án thành lập Chi cục Thuỷ lợi. Các doanh nghiệp KTCTTL thường xuyên chịu tác động của các chủ trương, chính sách mới, dẫn đến việc thường xuyên đưa vào diện được xem xét tách, nhập, tổ chức lại. Một số tỉnh đã thực hiện đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi (KTCTTL) trong tỉnh như TP.Hà Nội sau khi sáp nhập còn 4 doanh nghiệp KTCTTL liên huyện: Sông Đáy, Sông Tích, Sông Nhuệ và Quản lý, đầu tư thuỷ lợi Hà Nội; tỉnh Hải Dương sát nhập các Công ty KTCTTL huyện thành Công ty KTCTTL tỉnh. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc tách, nhập là do ý chí chủ quan, tuỳ tiện thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn.

 

 

Việc thực hiện sắp xếp, đổi mới và chuyển đổi hình thức hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 còn chưa thống nhất giữa các địa phương, còn lúng túng trong việc lựa chọn loại hình doanh nghiệp để chuyển đổi cho phù hợp. Các tổ chức quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của Nhà nước đang tồn tại, về bản chất hoạt động cơ bản là như nhau, song được khoác nhiều tên gọi khác nhau như: Công ty KTCTTL, Trung tâm khai thác Thuỷ lợi, Ban quản lý công trình thuỷ lợi, Công ty cổ phần... Sự khác biệt về tên gọi không có ý nghĩa nhiều về thực thi chủ trương đa dạng hoá quản lý công trình thuỷ lợi. Nhìn chung tiến độ đổi mới hoạt động của các doanh nghiệp KTCTTL còn chậm. Theo báo cáo của Cục thuỷ lợi, đến nay hầu hết các doanh nghiệp, đơn vị quản lý KTCTTL chưa thực hiện đổi mới tổ chức và giảm bớt được số lượng công nhân quản lý thuỷ nông.

 

Nhiều địa phương chưa thành lập các TCHTDN để quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng ở những hệ thống công trình thuỷ lợi vừa và lớn (Bắc Cạn, Lai Châu, Hà Giang, Cà Mâu, Hà Tĩnh...). Ở một số địa phương, UBND xã hoặc thôn quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa  bàn xã, trong khi UBND xã và thôn không phải là các TCHTDN. Nhiều địa phương ở vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long các tổ thuỷ nông quản lý công trình thuỷ lợi nội đồng trong địa bàn xã. Các tổ thuỷ nông này chưa phải là các tổ chức hợp tác dùng nước hoàn chỉnh. Việc thực hiện Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ về miễn giảm thuỷ lợi phí còn gặp nhiều vướng mắc ở các địa phương. Đối với phần kinh phí cấp cho các doanh nghiệp KTCTTL không có nhiều vướng mắc, tuy nhiên việc triển khai phân bổ kinh phí cho các tổ chức hợp tác dùng nước và các đơn vị quản lý KTCTTL không phải là doanh nghiệp còn gặp nhiều vướng mắc.

Thực tiễn phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi

Đến nay nhiều tỉnh đã thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các địa phương hoặc cho các tổ chức hợp tác dùng nước (TCHTDN). Theo kết qủa điều tra của đề tài có 25 tỉnh đã ban hành quy định (kể cả quy định tạm thời) về phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Từ năm 1996, Tuyên Quang đã thực hiện chuyển giao toàn bộ các công trình thuỷ lợi trong tỉnh cho các TCHTDN. Năm 2007 tỉnh Thái Bình là tỉnh đầu tiên đã thực hiện Đề án phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi và tổ chức thực hiện chuyển giao các trạm bơm nhỏ trong 1 xã cho các Hợp tác xã nông nghiệp (HTXNN) trên quy mô toàn tỉnh. Kết quả thực hiện đề án phân cấp quản lý ở Thái Bình [4] là đã chuyển giao được 285 trạm bơm nhỏ quy mô tưới tiêu cho 1 xã cho các HTXNN. Kết quả đánh giá ban đầu cho thấy sau khi được chuyển giao cho các HTXNN thì hiệu quả tưới tiêu của các trạm bơm này đã được nâng cao, nhân dân rất phấn khởi, đồng tình với chủ trương phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của tỉnh.

 

Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Nghị định 115/2008/NĐ-CP quy định về miễn giảm thuỷ lợi phí, quy định miễn thuỷ lợi phí đối với trường hợp sử dụng nước từ công trình thuỷ lợi được đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và cả trường hợp công trình thuỷ lợi đầu tư bằng nguồn vốn không thuộc ngân sách nhà nước. Chính sách này quy định các tổ chức được ngân sách cấp, sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí bao gồm cả các công ty KTCTTL, các tổ chức sự nghiệp và các TCHTDN. Đây là chính sách thuận lợi cho việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các TCHTDN. Khi thực hiện chính sách miễn giảm thuỷ lợi phí theo Nghị định 115/2009/NĐ-CP của Chính phủ, do được sử dụng kinh phí bù miễn thuỷ lợi phí nên một số địa phương đang có xu hướng chuyển giao ngược các công trình thuỷ lợi nhỏ cho Công ty KTCTTL. Tỉnh Vĩnh Phúc đang thực hiện thí điểm mô hình tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối theo phương thức: Thực hiện bàn giao toàn bộ các công trình thuỷ lợi trên địa bàn làm thí điểm (kể cả các công trình do các xã, HTXNN quản lý) cho các công ty KTCTTL quản lý phục vụ tưới từ đầu mối tới mặt ruộng [5]. Trước mắt, trong năm 2007 đã thực hiện thí điểm mô hình này cho các hệ thống thuỷ lợi của công ty KTCTTL Tam Đảo, Liễn Sơn, Lập Thạch và Mê Linh. Hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi của các mô hình thí điểm tổ chức quản lý khai thác và điều hành một đầu mối này cần được điều tra, đánh giá một cách khách quan để khẳng định sự phù hợp của mô hình.

Nhìn chung, các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới cho 1 xã, mức độ quản lý đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước. Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập), ranh giới hành chính và mức độ phức tạp về quản lý công trình. Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực tế ở các địa phương điều tra được trình bầy tóm tắt ở Bảng 1 và định lượng một số tiêu chí phân cấp quản lý ở các tỉnh điển hình được trình bày ở Bảng 2.

Bảng 1. Các loại tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi được
 áp dụng ở các tỉnh điều tra

TT

Vùng/tỉnh

Diện tích tưới

Dung tích hồ

Chiều cao đập

Cấp kênh/loại kênh

Ranh giới hành chính

Tính chất phức tạp của công trình

I

Vùng miền núi phía Bắc

1

Hà Giang

x

 

 

 

 

x

2

Sơn La

 

 

 

x

x

x

3

Tuyên Quang

 

 

 

 

x

x

4

Hoà Bình

x

 

x

 

 

 

5

Thái Nguyên

x

 

 

 

x

 

II

Vùng Đồng bằng sông Hồng

6

Thái Bình

 

 

 

 

x

 

7

Nam Định

 

 

 

 

x

 

8

Ninh Bình

x

 

 

x

x

 

9

Hải Phòng

x

 

 

 

x

 

III

Vùng Bắc Trung Bộ

10

Hà Tĩnh

 

x

x

 

x

 

IV

Vùng Nam Trung Bộ

11

Ninh Thuận

 

 

 

 

x

 

12

Quảng Nam

 

 

 

x

x

 

13

Quảng Ngãi

 

x

 

 

x

 

V

Vùng Tây Nguyên

14

Đắc Lắc

 

x

x

 

x

x

15

Kon Tum

 

x

x

 

x

 

VI

Vùng Đông Nam Bộ

16

Bà Rịa-Vũng Tầu

 

 

 

 

x

x

17

Tây Ninh

x

 

 

x

x

 

VII

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long

18

Tiền Giang

x

 

 

 

x

x

19

Đồng Tháp

 

 

 

x

x

x

20

An Giang

x

 

 

 

x

 

21

Bạc Liêu

 

 

 

x

x

x

Ghi chú: x - áp dụng

Bảng 2. Định lượng các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô
công trình thuỷ lợi ở các tỉnh điều tra

 

TT

 

Tỉnh

Diện tích tưới

(ha)

Dung tích hồ

(106 m3)

Chiều cao đập (m)

Cấp kênh/loại kênh

1

Hà Giang

<30

 

 

 

2

Hoà Bình

<30

 

<12

 

3

Thái Nguyên

<50

 

 

 

4

Vĩnh Phúc

 

 

 

Kênh cấp III

5

Hải Phòng

 

 

 

Kênh cấp III

6

Hà Tĩnh

 

<1

<10

 

7

Quảng Nam

 

 

 

Kênh loại III

8

Quảng Ngãi

 

<0.5

 

 

9

Đắc Lắc

 

<0.5

<8

 

10

Kon Tum

 

<1

<10

 

11

Tây Ninh

<50

 

 

Kênh cấp III, IV

12

An Giang

<100

 

 

Kênh cấp III

 

Hầu hết các tỉnh đều áp dụng tiêu chí ranh giới hành chính để phân cấp công trình thuỷ lợi. Các tỉnh đều có chủ trương phân cấp công trình thuỷ lợi nhỏ, phạm vi tưới, tiêu cho 1 xã cho các tổ chức hợp tác dùng nước. Một số tỉnh đã đề ra các tiêu chí phân cấp quản lý theo quy mô công trình (diện tích tưới, công suất trạm bơm, dung tích hồ chứa, chiều cao đập). Trong đó, tiêu chí phân cấp quản lý về diện tích tưới là khoảng 30 - 50 ha, dung tích hồ chứa từ 0.5 - 1 triệu m3 và chiều cao đập đất từ 8 -10m. Một số tỉnh đã đưa vào tiêu chí về mức độ quản lý phức tạp của công trình như các tỉnh Đắc Lắc, Hà Giang, Tiền Giang, Ninh Thuận. Tiêu chí quy mô công trình thuỷ lợi (lớn, vùa và nhỏ) được áp dụng ở các tỉnh như Thái Bình, Ninh Thuận, tuy nhiên chưa xác định tiêu chí cụ thể phân loại các công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ. Một số tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh, như tỉnh Vĩnh Phúc, Hải Phòng, trong khi đó tiêu chí loại kênh được áp dụng ở tỉnh Quảng Nam. Trong đó, kênh loại 1 là kênh tưới liên huyện, kênh loại 2 là kênh tưới liên xã và kênh loại 3 là kênh tưới trong 1 xã. Theo tiêu chí phân loại kênh, tỉnh Quảng Nam đã phân cấp quản lý kênh loại III cho các HTXNN. Nhiều tỉnh đưa ra tiêu chí phân cấp kênh nội đồng cho các tổ chức thuỷ nông cơ sở. Tuy nhiên tiêu chí kênh nội đồng chưa được định lượng cụ thể.

 

Các tồn tại, vướng mắc khi thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi như sau:

- Một số tỉnh chỉ có Công ty KTCTTL tỉnh, mà không thành lập các xí nghiệp khai thác thuỷ lợi huyện (tỉnh Bạc Liêu, Hậu Giang), thực tế cho thấy Công ty cũng chỉ quản lý được các công trình đầu mối, công trình xây đúc, còn toàn bộ hệ thống kênh mương, nhất là các tuyến kênh liên xã không quản lý được, nên hệ thống này không có chủ quản lý đích thực. Việc phân công trách nhiệm vận hành, duy tu bảo dưỡng hệ thống công trình thuỷ lợi giữa các công ty KTCTTL và các TCHTDN không rõ ràng, là nguyên nhân chủ yếu gây nên hiệu quả quản lý thấp ở nhiều hệ thống thuỷ lợi.

- Một số tỉnh, đến nay chưa có Công ty KTCTTL cấp tỉnh, nhất là các tỉnh ở vùng miền núi phía Bắc và vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Nhiều tỉnh miền núi đến nay chỉ thành lập các trạm thuỷ lợi cấp huyện, như tỉnh Lai Châu, Lào Cai….ở tỉnh Đồng Tháp, do chưa có Công ty KTCTTL nên việc quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là do UBND tỉnh, huyện và các Tổ chức hợp tác thực hiện. Tỉnh Long An chưa có Công ty KTCTTL cấp tỉnh mà chỉ có các Trạm thuỷ lợi huyện, do vậy nên gặp khó khăn trong việc quản lý khai thác các công trình, tuyến kênh tưới, tiêu liên huyện. Ở một số tỉnh các cơ quan quản lý nhà nước về thuỷ lợi như Chi cục quản lý thuỷ nông tỉnh Bà Rịa-Vũng Tầu và Chi cục thuỷ lợi tỉnh Cần Thơ thực hiện nhiệm vụ quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.

- Do thiếu cơ chế hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ tài chính nên mặc dù thấy được hiệu quả song nhiều địa phương vẫn còn dè dặt trong phân giao quản lý các công trình thuỷ lợi nhỏ, kỹ thuật đơn giản cho các tổ chức hợp tác dùng nước và cá nhân quản lý.

- Một số tỉnh không thực hiện phân cấp quản lý trực tiếp cho các tổ chức hợp tác dùng nước mà phân cấp cho các huyện. Nhưng một số huyện không thành lập được các trạm khai thác thuỷ lợi hoặc các tổ chức hợp tác dùng nước, nên huyện tạm thời cử cán bộ của phòng kinh tế huyện quản lý. Các phòng kinh tế huyện là các cơ quan có chức năng quản lý nhà nước vừa kết hợp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Hơn nữa, các cán bộ của huyện không đủ nhân lực để quản lý, vận hành các công trình thuỷ lợi, dẫn đến tình trạng thực chất là các công trình thuỷ lợi chưa có chủ quản lý đích thực, không đảm bảo tính hiệu quả và bền vững của công trình thuỷ lợi. Ví dụ ở tỉnh Đắc Lắc, UBND tỉnh phân cấp quản lý một số công trình thuỷ lợi nhỏ cho UBND huyện, sau đó UBND huyện giao cho phòng nông nghiệp địa chính hoặc UBND xã quản lý một số công trình dẫn đến không thực sự có chủ quản lý bởi vì không có người quản lý trực tiếp. Một số người được giao nhiệm vụ quản lý công trình này được hưởng chế độ như là công chức do ngân sách huyện hoặc xã trả hoàn toàn không phải tổ chức thu thuỷ lợi phí để có kinh phí quản lý và sửa chữa thường xuyên.

- Ở nhiều địa phương, hiện nay các công trình thuỷ lợi nhỏ và các kênh nội đồng (kênh loại III) trong 1 xã vẫn do các Công ty KTCTTL quản lý, ví dụ như ở tỉnh Quảng Nam, Hải Dương, Nghê An. Trong khi đó, đối với các công trình thuỷ lợi nhỏ ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc (Sơn La, Hoà Bình...) về danh nghĩa các Công ty KTCTTL chịu trách nhiệm quản lý công trình đầu mối và tuyến kênh chính còn các tổ chức thuỷ nông cơ sở (thôn, bản) quản lý hệ thống kênh nội đồng, nhưng thực tế các công trình đầu mối và kênh chính cũng do các thôn, bản quản lý vận hành.

- Các tiêu chí phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi thực hiện khác nhau ở các địa phương. Tiêu chí phân cấp hệ thống công trình thuỷ lợi có quy mô nhỏ, vừa và lớn chưa được thống nhất trong các văn bản pháp quy cũng như trong các báo cáo khoa học. Tiêu chí về quy mô công trình thuỷ lợi nội đồng không thống nhất ở các địa phương. Tiêu chí phân loại cấp kênh không thống nhất ở các văn bản khác nhau, dẫn đến tình trạng thực hiện phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cùng khác nhau ở các địa phương. Có tỉnh phân loại cấp kênh theo tiêu chí kênh chính, kênh nhánh cấp 1, 2,3, kênh nội đồng, trong khi đó có tỉnh phân loại kênh theo tiêu chí kênh loại 1, 2 và 3.

- Nhiều tỉnh khuyến khích phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước, nhưng chưa đề ra các tiêu chí cụ thể để thực hiện việc phân cấp quản lý. Hầu hết các tỉnh chưa đưa ra tiêu chí phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi đầu mối là các trạm bơm điện hoặc đập dâng nước.

 

Một số kiến nghị về phân cấp quản lý khai thác công trình thủy lợi

Phân cấp quản lý để phát huy vai trò và khả năng của người hưởng lợi tham gia quản lý công trình thuỷ lợi. Một số đề xuất để thực hiện phân cấp quản lý để nâng cao hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi như sau:

- Việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cần phải căn cứ vào quy mô, công suất của công trình, ranh giới hành chính và mức độ phức tạp trong quản lý và mức độ nguy hiểm đối với vùng hạ du khi công trình xảy ra sự cố.

- Cần phân định rõ trách nhiệm quản lý khai thác công trình giữa các công ty khai thác công trình thuỷ lợi với các cá nhân, tổ chức quản lý khác, đặc biệt trong vận hành, bảo vệ, duy tu bảo dưỡng nhằm bảo đảm an toàn công trình.

- Phân cấp quản lý công trình thủy lợi phải gắn với tổ chức quản lý khai thác sử dụng công trình, đồng thời gắn liền với phân cấp tỷ lệ kinh phí cấp bù miễn thu thuỷ lợi phí tương ứng. Người hưởng lợi có trách nhiệm nộp kinh phí phục vụ quản lý, vận hành, duy tu bảo dưỡng công trình và kênh mương từ sau cống đầu kênh của tổ chức hợp tác dùng nước tới mặt ruộng theo quy định hiện hành của chính sách thuỷ lợi phí.

- Cần xác định các tổ chức quản lý công trình thuỷ lợi trước khi thực hiện chuyển giao công trình, như các TCHTDN hoặc doanh nghiệp tư nhân, tránh tình trạng chuyển giao cho các đơn vị hành chính để dẫn đến tình trạng công trình vô chủ.

- Cần đưa ra các tiêu chí cụ thể phân cấp quản lý khai thác cho các loại hình công trình đầu mối khác nhau và các tuyến kênh tưới, tiêu trong các hệ thống công trình thuỷ lợi.

- Các doanh nghiệp tư nhân, các hình thức tổ chức khác và cá nhân được khuyến khích tham gia quản lý công trình thuỷ lợi nhỏ và công trình thuỷ lợi nội đồng có kết cấu, quy trình vận hành đơn giản ở các địa phương có điều kiện phù hợp.

- Ở các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên, tuy hầu hết các công trình thuỷ lợi là loại nhỏ, nhưng do trình độ quản lý của người dân địa phương hạn chế, nên cần đưa ra tiêu chí tính kỹ thuật phức tạp và hiệu quả về dân sinh, kinh tế xã hội đối với các công trình thuỷ lợi.

- Công trình thuỷ lợi do cấp nào quản lý thì cấp đó trực tiếp tổ chức vận hành, duy tu bảo dưỡng theo đúng quy trình, quy phạm và yêu cầu phục vụ tưới tiêu của hệ thống thuỷ lợi.

Kết luận

Phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi là một trong những yêu cầu cần thiết đảm bảo cho các hệ thống công trình thuỷ lợi phát huy hiệu quả đảm bảo phục vụ sản xuất nông nghiệp, dân sinh và các ngành kinh tế khác đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đến nay nhiều tỉnh có thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho các tổ chức hợp tác dùng nước. Một số tỉnh đã đưa ra các quy định về phân cấp quản lý phù hợp cho từng địa phương và việc áp dụng các nguyên tắc phân cấp quản lý này đã phát huy hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi. Tuy nhiên, việc thực hiện phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi ở nước ta cũng còn nhiều khó khăn, vướng mắc nên chưa phát huy được hiệu quả quản lý khai thác công trình thuỷ lợi.

Do vậy việc phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cần phải căn cứ vào quy mô, công suất của công trình, ranh giới hành chính và mức độ phức tạp trong quản lý và mức độ nguy hiểm đối với vùng hạ du khi công trình xảy ra sự cố. Cần phân định rõ trách nhiệm quản lý khai thác công trình giữa các công ty thác công trình thuỷ lợi với các cá nhân, tổ chức quản lý khác, đặc biệt trong vận hành, bảo vệ, duy tu bảo dưỡng nhằm bảo đảm an toàn công trình. Phân cấp quản lý công trình thủy lợi phải gắn với tổ chức quản lý khai thác sử dụng công trình, đồng thời gắn liền với phân cấp tỷ lệ kinh phí cấp bù miễn thu thuỷ lợi phí tương ứng. Việc phân cấp quản lý công trình thuỷ lợi cần thực hiện đồng thời hoặc sau khi củng cố, kiện toàn nâng cao năng lực của các TCHTDN, tăng cường phát huy vai trò của chính quyền địa phương và người dân trong việc tham gia quản lý, bảo vệ và khai thác công trình, nhằm phát huy hiệu quả công trình thuỷ lợi.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Bottrall, A. (1995). Overview: Irrigation management research - Old themes, new contexts, International Journal of Water Resources Development, 11 (1), pp. 5 - 9.

[2]. Huppert, W., Svendsen, M. & Vermillion, D.L. (2001). Governing maintenance provision in irrigation, Eschborn: GTZ.

[3]. Johnson III, S.H., Svendsen, M. & Gonzalez, F. (2002) Options for institutional reform in the irrigation sector, a paper prepared for the international seminar on participatory irrigation management, Beijing, China, 21-27 April, 2002.

[4]. Đề án phân cấp quản lý khai thác công trình thuỷ lợi cho cơ sở trên địa bàn tỉnh Thái Bình, 2007.

 
 
Các bài liên quan
 Thực trạng ăn mòn, và phá hủy các công trình bê tông cốt thép bảo vệ bờ biển nước ta (20/09/2010)
 Phương pháp điều chỉnh kết quả tính toán chế độ tưới cho vườn cây ăn quả trong vùng dự án nơi chưa có tài liệu thí nghiệm (20/09/2010)
 Dự báo xâm nhập mặn ven biển Đồng bằng sông Cửu Long (20/09/2010)
 Một số vấn đề cần nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ bê tông đầm lăn trong xây dựng công trình thủy lợi, thủy điện ở Việt Nam (13/09/2010)
 Một số kết quả nghiên cứu mới về bơm cột nước thấp (10/09/2010)
Thông báo
 Mời viết báo cáo tham luận tại Diễn đàn INWEPF2014 [30/06/2014]
 Xin ý kiến góp ý Dự thảo tiêu chuẩn kỹ thuật kênh bê tông đúc sẵn [08/05/2014]
 Danh sách nghiên cứu sinh được cấp bằng Tiến sĩ tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013 [08/04/2014]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 31
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 8,653,114
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR