Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ sáu 19/09/2014 08:46:16   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Sổ tay hướng dẫn thực hiện tiêu chí nước sạch tại các xã nông thôn mới 
 Sổ tay hướng dẫn quy trình phát triển quản lý tưới tiêu có sự tham gia của người dân - PIM (Phục vụ xây dựng nông thôn mới) 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 21 năm 2014 
 Danh mục sản phẩm Khoa học và công nghệ nổi bật của Viện 
 Tiêu chuẩn cơ sở thiết kế thi công và nghiệm thu kết cấu gia cố kênh bằng công nghệ ô ngăn hình mạng (NEOWEB) 
 
  Khoa học công nghệ  
Sử dụng vật liệu Nano để sản xuất thiết bị lọc nước sinh hoạt nhiễm asen
Nước sinh hoạt bị nhiễm Asen gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đang tích cực nghiên cứu ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào việc xử lý nguồn nước nhiễm Asen. Trong đó vật liệu nano được coi là có rất nhiều tiềm năng trong xử lý nước, bảo vệ môi trường và được ứng dụng vào nghiên cứu sản xuất thiết bị lọc nước có nhiễm Asen tại Việt Nam, bước đầu đã có nhiều kết quả khả quan.
 

I. Thực trạng công nghệ xử lý nước nhiễm Asen

1. Kết quả điều tra thực trạng công nghệ xử lý nước bị nhiễm Asen

Từ 1995 đến 2000, nhiều công trình nghiên cứu điều tra về nguồn gốc Asen có trong nước ngầm, mức độ ô nhiễm, chu trình vận chuyển... đã tìm thấy nồng độ Asen trong các mẫu nước khảo sát ở khu vực thượng lưu sông Mã, Sơn La, Phú Thọ, Bắc Giang, Hưng Yên, Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hóa... đều vượt tiêu chuẩn cho phép đối với  nước sinh hoạt của Quốc tế  và Việt Nam.

Kết quả điều tra thực tế tại Thái Bình, Nam Định, Hà Tây (cũ), Hà Nam (năm 2008) cho thấy trên 30% dân số khu vực nông thôn tại các tỉnh trên sử dụng nguồn nước giếng bị ô nhiễm Asen để phục vụ sinh hoạt, nồng độ Asen trong nước vượt từ 5 - 20 lần nồng độ Asen trong nước ăn uống theo tiêu chuẩn 1329/BYT. Hai tỉnh Hà Tây (cũ) và Hà Nam bị ô nhiễm Asen trong nước ngầm với tỷ lệ cao nhất:

Bảng 1. Hiện trạng ô nhiễm Asen tại Hà Tây -  kết quả điều tra năm 2008

TT

Huyện

Tổng

số

mẫu

Số mẫu nước bị nhiễm Asen (mg/l)

Tỷ lệ nhiễm Asen

Tổng

số

Chia ra

0,05-0,07

0,07-0,1

0,1-0,2

> 0,2

1

Chương Mỹ

1.319

54

32

17

5

 

3,87

2

Ưng Hòa

2.967

1.381

227

385

538

231

46,55

3

Thanh Oai

2.864

1.464

500

502

356

106

51,12

4

Đan Phượng

1.242

509

102

165

146

96

40,98

5

Hoài Đức

2.000

749

494

210

45

 

37,45

6

Phúc Thọ

5.32

165

70

61

34

 

31,02

7

Ba Vì

455

16

8

6

2

 

3,52

8

Mỹ Đức

891

160

60

34

37

29

17,96

9

Phú Xuyên

1.479

634

91

107

293

143

42,87

10

Thường Tín

1.946

967

141

233

322

271

49,69

 

Tổng

15.771

6.099

1.725

1720

1.778

876

38,67

 

% so với tổng số

100%

49,40%

13,97%

13,93%

14,40%

7,1%

38,67

Bảng 2. Hiện trạng ô nhiễm Asen tại Hà Nam - kết quả điều tra năm 2008

TT

Huyện

Số xã

Số giếng

Hàm lượng Asen (ppb)

0-10

11-50

51-100

101-200

201-500

>500

1

Bình Lục

20

1059

541

149

140

118

137

4

2

Lý Nhân

21

1325

416

228

392

106

167

16

3

Thanh Liêm

20

588

456

82

20

20

10

0

4

Kim Bảng

19

819

378

158

100

96

87

0

5

Duy Tiên

21

1090

518

211

142

117

98

4

6

Phủ Lý

8

199

106

51

34

6

8

0

 

Tổng

109

3080

2415

829

795

463

504

24

 

% Tổng

 

 

47.54

17.30

15.65

9.44

9.92

0.47

(Qui đổi: 1ppb = 1g/l = 0,001 mg/l)

Hầu hết các hộ gia đình tại đây đều sử dụng các biện pháp lọc nước bằng cát, đá, sỏi theo phương pháp truyền thống, thô sơ nên không xử lý triệt để Asen, từ đó Asen theo đường nước sinh hoạt tiếp xúc qua da và hệ tiêu hóa tích tụ trong cơ thể gây ra nhiều bệnh tật nguy hiểm. Trong nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong nước và trên thế giới đã chỉ ra rằng khả năng tích lũy của Asen trong cơ thể là rất lớn kể cả khi tiếp nhận với một liều lượng nhỏ trong thời gian dài. Asen tích lũy trong cơ thể gây tác động đến các vùng chính: hệ tiêu hóa, da, hệ thần kinh, dây thần kinh vận động, từ đó làm tăng nguy cơ mắc các bệnh về thần kinh, gan, thiếu máu, rối loạn chuyển hóa protein và đường, sừng hóa da và điều đáng lo ngại nhất là dẫn đến ung thư da, phổi, bàng quang và thận.

2. Một số kết quả nghiên cứu xử lý Asen tại Việt Nam

*Thiết bị xử lý nước bị nhiễm Asen sử dụng vật liệu từ đá ong do TS Trần Hồng Côn - Trường Đại học Khoa học Tự nhiên nghiên cứu:

Sử dụng đất sét, đá ong, đá son (limônit) đã được biến tính làm vật liệu lọc xử lý Asen trong nước sinh hoạt cho các hộ gia đình được đánh giá là rất an toàn và tiện lợi. Bình lọc có cấu tạo như các bình lọc thông thường nhưng bộ cột lọc có tính năng ôxy hoá và hấp phụ để giữ lại asen. Bình lọc có thể bằng inox hoặc nhựa với hai ngăn. Ngăn thứ nhất chứa một cột hấp phụ làm từ các hạt đất sét, đá ong và đá son đã được biến tính nhiệt và biến tính nhiệt hoá. Khi nước chảy qua cột này, asen và mangan trong nước sẽ bị giữ lại, còn nước sạch chảy vào ngăn thứ hai để sử dụng.

* Bể lọc cát có hệ thống giàn mưa làm thoáng:

Đây là mô hình phổ biến được người dân ở các vùng nông thôn có nguồn nước bị nhiễm Asen sử dụng. Hệ thống bể lọc cát thông thường được bổ sung thêm hệ thống giàn mưa làm bằng các ống nhựa để tăng quá trình trao đổi oxi của nước và oxi trong không khí, giúp cho oxit sắt, oxit mangan trong nước nhanh chóng chuyển thành các hydroxit và chính các hydoroxit này góp phần hấp thụ Asen trong nước. Tuy nhiên với các nguồn nước bị ô nhiễm Asen cao thì phương pháp này xử lý không triệt để.

* Vật liệu lọc NC-F20: Viện hóa học (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) đã phát triển một kỹ thuật chế tạo vật liệu gốm xốp tổ hợp nanocomposite bao gồm Fe3O4 kích thước 10 - 12nm trên chất mang Bentonite (NC-F20). Vật liệu này có hiệu năng hấp thụ asen cao, có khả năng hấp thụ hàng loạt các ion khác và rất thuận tiện trong sử dụng."NC-F20 là vật liệu chặn an toàn trong xử lý asen". Nano oxyt sắt từ là một vật liệu mới hứa hẹn năng lực cao trong xử lý asen.

3. Các phương pháp xử lý Asen

Asen tồn tại trong nước ở dạng vô cơ trạng thái hóa trị 3 (As 3+) và hóa trị 5 (As5+), có độc tố cao hơn so với Asen ở dạng nguyên tố. Hiện nay để xử lý Asen trong nước người ta có những công nghệ sau:

Lắng: biến Asen trong nước thành dạng rắn sau đó là tách chất rắn ra khỏi nước. Có 2 phương pháp lắng thông dụng:

- Ngưng tụ/ lắng: để ngưng tụ Asen trong nước người ta dùng Sunfat nhôm, hợp chất clorua sắt, sunfat sắt làm chất keo tụ, sau đó tách các hạt keo có chứa Asen ra khỏi nước bằng quá trình lắng.

- Quá trình oxi hóa sắt và mangan thường dùng để xử lý Asen có trong nước ngầm, quá trình này biến các oxit sắt, mangan thành các hydroxit và lắng xuống, trong quá trình lắng đó các hydroxit hấp thụ Asen có trong nước

Trao đổi ion: Trong việc khử Asen người ta dùng nhựa trao đổi ion âm tính có tính kiềm mạnh, muối sunfat (SO42-) là loại trao đổi ion có tính lựa chọn tốt nhật (hạt nhựa Zesin). Hiệu quả của quá trình này tùy thuộc vào trạng thái oxit của Asen, độ PH, các ion cùng tồn tại trong dung dịch, loại zesin sử dụng, nồng độ Asen đưa vào, độ cứng của nước.

Lọc màng (Membrain): Lọc Membrain là phương pháp dựa vào sự ngăn cản của màng lọc, phần chất ô nhiễm không lọt được qua lỗ màng sẽ được khử ra khỏi nước. Việc khử Asen qua màng không đơn giản chỉ bằng lọc màng được tiến hành nhờ hấp phụ và điện tích của hạt. Do vậy những yếu tố quan trọng để khử asen ở đây là độ lớn của hạt hợp chất asen và của màng, đặc tính hóa học như tính thân nhựa và điện tích bề mặt của hai nhân tố trên.

Hấp phụ: Là quá trình làm chất ô nhiễm bám dính trên bề mặt chất hấp phụ nhờ đó mà nồng độ chất ô nhiễm trong dung dịch giảm dần. Để hấp phụ Asen người ta thường dùng các chất hấp phụ như oxit kim loại (oxit sắt) các alumina hoạt tính, các chất có tính hấp phụ mạnh.

Trong các phương pháp xử lý trên thì hấp phụ là phương pháp kinh tế hơn hẳn. việc xử lý dễ dàng và an toàn. Năng lực hấp phụ của chất hấp phụ được quyết định bởi các tính chất hóa lý như độ lớn, cấu tạo, điện tích bề mặt, độ rỗng của chất hấp phụ. Hấp phụ là phương pháp được áp dụng phổ biến trên thế giới ngay cả ở qui mô công nghiệp và qui mô hộ gia đình. Bên cạnh việc sử dụng các vật liệu hấp phụ Asen truyền thống như trên, trên thế giới hiện nay đã và đang phát triển các vật liệu lọc có kích thước nano nhằm tăng điện tích bề mặt, độ rỗng xốp của vật liệu từ đó làm tăng khả năng xử lý Asen trong nước.

II. Thiết bị lọc nước nhiễm Asen sử dụng vật liệu lọc nano

1. Cấu tạo thiết bị lọc nước nhiễm Asen sử dụng vật liệu lọc nano

Thiết bị gồm 3 bộ phận: Vỏ, lõi lọc, phụ kiện.

 

 

 

 

- Vỏ thiết bị: Bao gồm thân máy và đế, thân máy có hai bộ phận thân trên và thân dưới có ren để lắp khớp với nhau, thân máy có chức năng bảo vệ lõi bên trong và giữ cho nước lưu thông phía bên trong thân suốt quá trình máy vận hành, đế là bộ phận đỡ cho toàn bộ thiết bị giữ vững ở vị trí thẳng như hình vẽ. Vỏ có thể làm bằng nhựa hoặc inox.

- Lõi lọc: Lõi lọc làm bằng nhựa, bên trong chứa vật liệu lọc nano, lõi lọc có hai đầu đều có rãnh để đưa nước vào và ra, đầu nước vào ở phía dưới, nước ra ở phía trên, nước sau lọc tràn qua phần khoang trống giữa lõi và thân máy rồi đi ra ngoài.

- Phụ kiện: Gồm có van khóa nước, ống dẫn nước vào, vòi dẫn nước ra, cút nối van và vòi vào thân máy, gioăng cao su để chèn khi lắp gien giữa hai bộ phận của thân máy giúp cho nước không bị rò rỉ.

2. Vật liệu Nano sử dụng trong lõi lọc

Vật liệu nano là vật liệu trong đó ít nhất một chiều có kích thước nano mét
(=10-9 m)
. Về trạng thái của vật liệu, người ta phân chia thành ba trạng thái,
rắn, lỏngkhí. Vật liệu nano được tập trung nghiên cứu hiện nay, chủ yếu là vật liệu rắn, sau đó mới đến chất lỏng và khí.

- Vật liệu nano không chiều (cả ba chiều đều có kích thước nano, không còn chiều tự do nào cho điện tử), ví dụ, đám nano, hạt nano...

- Vật liệu nano một chiều là vật liệu trong đó hai chiều có kích thước nano, điện tử được tự do trên một chiều (hai chiều cầm tù), ví dụ, dây nano, ống nano,...

- Vật liệu nano hai chiều là vật liệu trong đó một chiều có kích thước nano, hai chiều tự do, ví dụ, màng mỏng,...

- Ngoài ra còn có vật liệu có cấu trúc nano hay nanocomposite trong đó chỉ có một phần của vật liệu có kích thước nm, hoặc cấu trúc của nó có nano không chiều, một chiều, hai chiều đan xen lẫn nhau.

Nhờ tồn tại với kích thước nano nên các vật liệu có độ rỗng xốp, diện tích bề mặt, điện tích hấp phụ vô cùng lớn nhờ đó mà tăng lực hấp phụ lôi kéo các hạt vật chất ô nhiễm bám dính trên các lỗ mao quản của vật liệu hấp phụ.

Trong quá trình nghiên cứu các ứng dụng các loại vật liệu nano, chúng tôi đã chọn lựa ứng dụng vật liệu Nano có nguồn gốc cácbon để tiến hành chế tạo thử nghiệm thiết bị lọc nước nhiễm Asen. Các bon là nguyên tố rất phổ biến trong vỏ trái đất. Nhưng sự khác nhau giữa than - kim cương và nano các bon chủ yếu là do cấu trúc bên trong khác hẳn nhau giữa chúng. Bình thường cấu trúc của than chì (một dạng các bon) gồm các lớp than mỏng với chiều dày nguyên tử, gọi là graphen. Mối liên kết giữa các lớp graphen thì lại rất yếu, cho nên ta mới dùng bút chì để viết được. Còn cấu trúc của các nguyên tử trong graphen là lục giác và chúng liên kết với nhau rất mạnh, thậm chí các nhà khoa học không tin là các biện pháp thông thường có thể tách nó ra. Các nhà khoa học đã tổng hợp được 1 hợp chất mà cho nó thấm vào chì giữa các lớp graphen, có thể nằm ở đó rất lâu, nhưng không gây phản ứng. Khi có một tác động mạnh nào đó: đập cơ học, hóa chất, đun nóng tới 150 - 200 oC thì các lớp graphen tách ra và phản ứng dây chuyền nổ lạnh không điều khiển xảy ra. Kết quả tạo nên một khối xốp mà thể tích của nó gấp 500 lần khối ban đầu. Cục than chì biến thành bông xốp đen nhẹ, chứa đến 20% cấu trúc nanô. Trong cấu trúc mới của chì có cả graphen, nanô ống, nanô nhánh, nanô vòng, nanô đọan. Sự nổ lạnh này làm bứt phá không  những mối liên kết  yếu giữa các lớp graphen, mà còn  bứt phá từng phần liên kết hóa trị  giữa các nguyên tử các bon trong graphen, kết quả là tạo thành một lượng lớn các nguyên tử gốc tự do mà mối liên hệ nguyên tử không no. Hỗn hợp cácbon dạng này người ta gọi là USVR, những tính ưu việt của nó, người ta đang ứng dụng vào trong lĩnh vực lọc nước, xử lý nước thải của các khu dân cư, của các nhà máy công nghiệp. Những tính chất ưu việt của nó là:

- Có khả năng lọc những hạt rất nhỏ cỡ nanômét, giống như màng. Sự khác nhau ở đây là: màng lọc theo diện còn USVR lọc theo thể tích.

- Có khả năng hấp thụ, nó giữ những hạt nhỏ bên trong thể tích của nó, đó là tính hấp thụ.

- Có khả năng lọc sạch nước khỏi vi khuẩn và vi rút.

Và trong khả năng thứ ba này USVR phải kết hợp với nanô bạc, đó là chất có khả năng khử trùng, ngăn cản sự phát triển của các loại khuẩn.

Đối với Asen trong nước tồn tại ở các hóa trị As3+, As5+, dưới dạng các hợp chất vô cơ khi đi qua các loại vật liệu nano cácbon rất dễ dàng bị bắt giữ bởi các lực hút bên trong các mao quản vật liệu khiến các hợp chất bám dính chặt vào các mao quản và không tan theo dòng nước nữa, nhờ diện tích bề mặt lớn, điện tích lớn nên tính hấp phụ của vật liệu nano cacbon gấp hàng triệu lần tính hấp phụ của than hoạt tính. Bên cạnh đó đối với những vật liệu than nano dùng để hấp phụ Asen khi sản xuất người ta còn cho thêm các chất phụ gia để quá trình xử lý tập trung chủ yếu vào việc bắt giữ các hợp chất chứa Asen.

Vật liệu nano cácbon được nghiên cứu ứng dụng dưới hai dạng sau:

Vật liệu cacbon nano dạng bột mịn: có kích thước dạng bột, rất nhỏ, màu đen, trọng lượng siêu nhẹ, có độ nén ép cao.

- Vật liệu cacbon nano dạng hạt: kích thước hạt cỡ 0,5 ¸ 1 mm, màu nâu đất, độ nén ép nhỏ hơn dạng bột vì bột cacbon nano đã được nén ép lại dưới dạng hạt, vì thế kích thước mao quản hấp phụ vẫn tồn tại ở kích thước nano. Vật liệu dạng hạt dễ vận chuyển, dễ đưa vào các lõi lọc hơn dạng bột, với loại này người ta cũng đã bổ xung chất xúc tác để tăng cường khả năng lọc Asen trong nước.

3. Nguyên lý hoạt động của thiết bị lọc ứng dụng vật liệu Nano

Nước nhiễm Asen được đưa vào ống dẫn nước vào của máy lọc, sau đó nước được đẩy vào phía trong lõi lọc nano theo hướng đi từ dưới lên, phía bên trên của lõi lọc nano có nhiều khe hở để dòng nước sau xử lý chảy tràn qua không gian giữa thân máy và lõi nano. Nước sạch chảy vào lỗ thu nước ra và theo vòi ra để đưa vào sử dụng. Hoạt động của thiết bị khá đơn giản và tiện sử dụng để có thể lắp đặt vào các vị trí khác nhau.

Đối với nguồn nước sinh hoạt của người dân ở các khu vực thành thị khi sử dụng chỉ cần nối vòi nước sử dụng với ống nước vào thiết bị, sau đó nước ra khỏi thiết bị là có thể sử dụng cho mục đích ăn uống và sinh hoạt. Với nguồn nước sinh hoạt không tập trung và chất lượng nước đầu vào không ổn như ở các vùng nông thôn của nước ta thì cần bổ sung bộ phận lọc thô như bể lọc cát, cột lọc thô trước khi nước vào thiết bị để tăng tuổi thọ của thiết bị nếu không lõi sẽ nhanh chóng bị tắc và không sử dụng được. 

4. Kết quả quá trình nghiên cứu thực nghiệm

Sau quá trình điều tra hiện trạng công nghệ xử lý nước và nhu cầu sử dụng nước tại các địa phương của khu vực đồng bằng Bắc Bộ, chúng tôi đã và đang triển khai sản xuất thử nghiệm các loại thiết bị lọc với 4 qui mô sau:

- Qui mô lọc 60 - 80l/h, 200 - 240 l/h: phục vụ lọc nước sinh hoạt cho 1 hộ gia đình, cụm gia đình (3 - 4 hộ).

- Qui mô lọc 300 - 350 l/h, 450 - 500 l/h: phục vụ lọc nước cấp sinh hoạt cho cụm dân cư, trường học, trạm y tế.

Các bộ phận của  thiết bị lọc được sản xuất hoàn toàn tại Việt Nam hoặc sử dụng các linh kiện sẵn có trên thị trường, nhưng dựa trên cơ sở là vật liệu lọc cacbon nano nhập ngoại (hiện nay tại Việt Nam chưa sản xuất được). Thiết bị được thiết kế để phù hợp với điều kiện sinh hoạt, cấp nước của đại đa số người dân. Các thiết bị rất dễ sử dụng, vận hành, sửa chữa và thay thế khi có sự cố. Tuy nhiên các lõi lọc nano cũng chỉ có tuổi thọ sử dụng nhất định vì khi khả năng hấp phụ của vật liệu hết thì lõi cũng hết thời hạn sử dụng nên phải thay thế bằng lõi khác.

Khi nghiên cứu vật liệu lọc chúng tôi có tiến hành thử nghiệm lọc nguồn nước bị nhiễm Asen và kết quả cho thấy như sau:

Nồng độ Asen (mg/l)

Đầu vào

Đầu ra

TCN Bộ y tế (1329/2002)

Kiểm tra lần 1

0,148

0,002

0,01

Kiểm tra lần 2

0,148

0,008

0,01

Kiểm tra lần 3

0,28

0,01

0,01

Kết quả nước sau khi lọc cho thấy vật liệu lọc đạt hiệu quả rất cao (< TCN 1329/2002) khi nồng độ asen trong nước đầu vào khoảng từ 0,1 ¸ 0,3 mg/l (vượt từ 10¸30 lần tiêu chuẩn).

5. Xu hướng mở rộng và phát triển kết quả nghiên cứu

Với các kết quả nghiên cứ đạt được chúng tôi sẽ mở rộng và phát triển nghiên cứu theo các hướng sau:

Tích hợp thiết bị lọc Asen với các thiết bị lọc thô (làm giảm nồng độ chất rắn lơ lửng, tạp chất kích thước lớn, các chất hữu cơ…) thành một bộ thiết bị lọc hoàn chỉnh có chức năng xử lý các loại chất ô nhiễm khác đảm bảo các thông số chất lượng nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn cho phép.

Chế tạo các bộ thiết bị xử lý nước di động (xách tay, đặt trên thuyền, trên xe) có ứng dụng các thiết bị lọc nano kết hợp các thiết bị lọc thông thường để phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt cho người dân các vùng thường xuyên bị ngập lũ.

III. Kết luận

Việc ứng dụng vật liệu lọc cacbon nano để chế tạo thiết bị lọc nước nhiễm Asen tại Việt Nam rất có triển vọng vì vật liệu nano có khả năng xử lý Asen rất tốt đáp ứng được mong đợi của những người dân đang phải đối mặt với các căn bệnh nguy hiểm do việc sử dụng nguồn nước nhiễm Asen gây ra. Các thiết bị lọc được đánh giá là dễ sử dụng, phù hợp với tập quán sử dụng nước của người dân, có khả năng kết hợp với các phương pháp xử lý nước thông thường để tạo thành các bộ thiết bị tích hợp hoàn chỉnh phục vụ nhiều mục đích khác nhau.

Các nhà khoa học nghiên cứu về công nghệ nano trên thế giới đã khẳng định “Công nghệ nano đang trở thành một lĩnh vực khoa học công nghệ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết một số bất cập của các thiết bị xử lý nước truyền thống...” “Các vật liệu nano có thể làm cho các công nghệ này rẻ hơn, bền hơn và xử lý nước hiệu quả hơn phù hợp với điều kiện các nước đang phát triển”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Hà Lương Thuần (2008), Các báo cáo kết quả đề tài, Nghiên cứu thiết kế, chế tạo thiết bị sử dụng vật liệu Nano để xử lý nước có ô nhiễm Asen phục vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn, Viện nước, tưới tiêu và môi trường, Hà Nội.

[2]. Nguyễn Hoài Châu (2005), ‘‘Nghiên cứu xây dựng công nghệ khả thi xử lý amoni và asen trong nước sinh hoạt’’. Báo cáo đề tài tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Hà Nội.

[3]. United Nation Children’s Fund (UNICEF), (2002), ‘‘Hướng tới giảm nhẹ ô nhiễm Arsen ở Việt Nam’’, Hà Nội.

[4]. Nguyễn Việt Anh (2001), ‘‘Một số công nghệ xử lý arsem trong nước ngầm phục vụ cho nước cấp sinh hoạt đô thị và nông thôn’’, Hội thảo quốc tế về ô nhiễm arsem: Hiện trạng tác động đến sức khoẻ con người và các giải pháp phòng ngừa, Hà Nội.

[5]. Find Repot Japan International Cooperation Agency (JICA), (2000), The study on Groundwater Development in the rural Province of Northem Part in the Socialist Republic of VietNam, HaNoi.

[6]. Dphe, UNICEF (1998), ‘‘Proposed Arsenic Testing Guidelines for New Tubewell Installation in Bangladesh’’, Government of people’s republic of Bangladesh. 30/05/2007.

 

Tác giả: PGS.TS. Hà Lương Thuần, KS. Đỗ Thị Thu Huyền - Viện Nước Tưới tiêu & Môi trường

 

 

 
 
Các bài liên quan
 Điều hành hệ thống hồ chứa với mục tiêu chống lũ và phát điện. Tác giả: GS.TS. Vũ Tất Uyên (26/07/2010)
 Tình trạng cạn kiệt trên hệ thống sông Hồng và kiến nghị giải pháp khắc phục (17/06/2010)
 Phần mềm văn phòng điện tử Q-Eoffice giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý (16/06/2010)
 Hiệu quả kinh tế khi ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt cho cây bưởi (17/05/2010)
 Ứng dụng và phát triển công nghệ Jet-grouting ở Việt Nam (12/05/2010)
Thông báo
 Mời viết báo cáo tham luận tại Diễn đàn INWEPF2014 [30/06/2014]
 Xin ý kiến góp ý Dự thảo tiêu chuẩn kỹ thuật kênh bê tông đúc sẵn [08/05/2014]
 Danh sách nghiên cứu sinh được cấp bằng Tiến sĩ tại Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam giai đoạn 2011 - 2013 [08/04/2014]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 33
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 8,746,080
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR