Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ tư 12/12/2018 14:27:55   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam làm việc với Viện KIT - CHLB Đức 
 Họp Hội đồng tư vấn đánh giá, nghiệm thu cấp cơ sở nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp Quốc gia 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 47 năm 2018 
 Tuyển dụng viên chức 
 Tuyển sinh đào tạo Tiến sĩ năm 2018 
 
  Hoạt động SXKD & Tiếp thị  
Giải pháp túi địa kỹ thuật để sửa chữa nâng cấp đường giao thông nông thôn
Hiện nay, các tuyến đường giao thông từ thôn xã ra các khu sản xuất và các đường nội đồng đều đang được bê tông hóa. Nhưng với nền đường mềm yếu, thường xuyên ngập nước sẽ dẫn đến chất lượng và độ bền bê tông mặt đường giảm nhanh. Đặc biệt vào mùa mưa, trên tuyến đường ởn hiều địa phương, các phương tiện đi lại nhiều gây gãy nứt hư hỏng nặng. Bài viết này giới thiệu công nghệ túi địa kỹ thuật nhằm khắc phục những hạn chế của giải pháp bê tông hóa đường nông thôn và các phương thức ứng dụng trong điều kiện thực tế ở hệ thống giao thông nông thôn của Việt Nam.
 

I. MỞ ĐẦU1

Xây dựng nông thôn mới cần tập trung các nguồn lực của cả Nhà nước và nhân dân, giải quyết những vấn đề cấp bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo, trong đó có việc phát triển và hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông nông thôn góp phần không nhỏ vào việc phát triển kinh tế, văn hóa xã hội của địa phương, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và giải phóng sức lao động cho nhân dân.

Hiện nay, cả nước có hơn 295.046 km đường bộ, trong đó hệ thống giao thông nông thôn (đường huyện, xã, thôn) chiếm tới 85%. Nếu xét trên diện rộng, mật độ giao thông nông thôn trên cả nước còn thấp (0,59 km/km2); trong đó mật độ đường huyện chỉ là 0,14 km/km2 với tỷ trọng 0,55km/1.000 dân; đường xã là 0,45 km/km2 và 1,72 km/1.000 dân. [5]

Hệ thống giao thông nông thôn (GTNT) theo tiêu chuẩn 22TCN 210-92 quy định các tuyến đường từ xã xuống thôn, đường liên thôn và từ thôn ra cánh đồng (khu vực sản xuất) được chia làm 2 loại A và B. Đặc điểm chung của đường giao thông nông thôn là có quy mô nhỏ và vừa với tải trọng nhẹ, yêu cầu tận dụng tối đa điều kiện sẵn có của địa phương về vật liệu, thiết bị, nhân lực...

Hiện nay các tuyến đường giao thông từ thôn xã ra các khu sản xuất và các đường nội đồng đều đang áp dụng giải pháp bê tông hóa. Với giải pháp này thì hiện tượng nền đường mềm yếu, thường xuyên ngập nước dẫn đến chất lượng, và độ bền bê tông mặt đường giảm nhiều, đặc biệt vào mùa mưa các phương tiện đi lại nhiều trên mặt đường gây gãy nứt hử hỏng nặng ở nhiều địa phương.

Nhằm khuyến khích nhân dân có thể xây dựng và duy trì các cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, một phương pháp đơn giản sẽ được giới thiệu là sử dụng túi địa kỹ thuật để sửa chữa nâng cấp đường giao thông nông thôn.

II. TÚI ĐỊA KỸ THUẬT

Vật liệu túi địa kỹ thuật được sử dụng từ các nguồn vật liệu sẵn có trong các hoạt động sản xuất của nông dân (có thể sử dụng các túi đựng phân bón, thức ăn chăn nuôi có trọng lượng 50kg). Trước đó, cần kiểm tra các yêu cầu kỹ thuật như trong Bảng 1[3].

Thông số

Đơn vị

 

Kích thước

cm

60 x 45

Trọng lượng

g/túi

42

Trọng lượng riêng

g/m2

78,3

Khả năng chịu kéo

KN/m

6,5

  

Hình 1: Túi sử dụng Hình 2: Cách buộc túi và sắp xếp túi khi thi công [1], [2].

Như vậy, những lợi thế của việc sử dụng túi địa kỹ thuật như sau:

1) Tận dụng được tối đa các loại túi trong sản xuất nông nghiệp.

2) Không yêu cầu các thiết bị thi công đặc biệt.

3) Sử dụng được bất kỳ vật liệu đất hoặc đá để gia cố.

III. ỨNG DỤNG TẠO MẶT ĐƯỜNG

Các hệ thống đường từ xã xuống thôn và đường ra các khu sản xuất hiện nay có bề mặt là đường đất có thể ứng dụng túi địa kỹ thuật làm mặt đường.

Tiến hành đào khuôn nền đường với chiều sâu trung bình từ 20cm đến 30cm

Hình 2 : Hiện trạng mặt đường Hình 3: Đào tạo khuôn đường

Đổ các vật liệu vào túi địa kỹ thuật có kích thước (60x45)cm, mỗi túi trung bình khoảng 0,016m3. Xếp các túi địa kỹ thuật vào khuôn đường đã đào. Sử dụng hai lớp túi trải xếp lớp chồng lên nhau, chiều dày trung bình của túi là 0,1m (sau khi dàn và đầm phẳng), tùy thuộc vào tải trọng trên mặt đường có thể xếp 3 lớp túi tại các vị trí vệt bánh xe.

Hình 4: Đổ vật liệu và buộc túi địa KT Hình 5:Xếp túi ĐKT,đầm tạo phẳng nền

Rải đất và đá dăm trên mặt nền đã xếp túi địa kỹ thuật sau đó đầm tạo phẳng với chiều dày hoàn thiện 10cm. Mặt đường có độ dốc để thoát nước sang hai bên khoảng từ 3 - 5%.

Hình 6: Rải đất và đá dăm trên bề mặt nền túi địa kỹ thuật tạo mặt đường Hình 7: Mặt đường hoàn thiện

Hình 8: Mặt cắt ngang thiết kế

IV. DUY TU BẢO TRÌ MẶT ĐƯỜNG PHẲNG

Tại khu vực mặt đường bằng phẳng, khó thoát nước mưa theo chiều dọc. Nước mưa ứ đọng trên mặt đường là nguyên nhân chính gây hư hại cho đường đất (Hình 9). Để khắc phục cần có giải pháp tập trung phần nước mặt và tiêu thoát nó một cách nhanh chóng để giảm thiểu thiệt hại đường bộ.

Hình 9: Tiêu thoát nước ở bề mặt Hình 10 : Mặt cắt ngang sửa chữa

Sử dụng túi đất địa kỹ thuật là một giải pháp có hiệu quả cao (hình 10). Để thu và tập trung nước mặt đưa tiêu thoát ra hai bên lề đường chỉ cần có các vật liệu sẵn có ở địa phương như sỏi, đá, túi plastic đựng phân bón cho cây trồng hoặc thức ăn chăn nuôi và lao động thủ công. Sử dụng túi vải địa kỹ thuật như vậy làm tăng khả năng bảo trì đường giao thông nông thôn hiệu quả cao và với chi phí thấp. Kết cấu túi sỏi sẽ như một hệ thống thoát nước đầy đủ có khả năng thu và xả nước bề mặt nhanh chóng. Vật liệu trong túi địa kỹ thuật là sỏi hoặc đá có cấp phối Dmax < 30mm. Trên phần mặt túi đổ đá dăm có chiều dày không nhỏ hơn 10 cm và đầm chặt. Việc xây dựng mặt đường vồng lên cho phép nước chảy từ mặt đường thoát sang bên lề.

V. DUY TU BẢO TRÌ MẶT ĐƯỜNG DỐC

Tại một số vị trí của tuyến đường có độ dốc dọc, dòng chảy bề mặt gây ra xói mòn, ở giữa đường rãnh sâu được hình thành tạo ra "mặt nghiêng chìm" (hình 11). Sử dụng các giải pháp gia cố như đắp bù... nhưng nền đường vẫn không rút nước tốt sau, sau thời gian hoạt động lại hình thành các rãnh xói. Khi gia cố bằng túi địa kỹ thuật thì túi sẽ hoạt động như hệ thống thoát nước ngầm dưới mặt đường đảm bảo không gây xói mòn bề mặt.

Hình 11: Tiêu nước ở bề mặt phần dốc Hình 13: Hiện trạng kênh cống dẫn nước qua đường


Hình 12 : Mặt cắt ngang sửa chữa

Mặt cắt ngang của con đường đã được duy trì (hình 12). Túi địa kỹ thuật được đặt trong các rãnh để lấp đầy khoảng trống nhằm xây dựng nền đường bền vững. Để tránh mặt đường bị lầy lội, sử dụng vật liệu có sẵn như đá dăm, sỏi… để bao phủ bề mặt. 

VI. CỐNG QUA ĐƯỜNG

Hình 14: Thi công cống qua đường

Có thể sử dụng túi địa kỹ thuật để ứng dụng làm các hệ thống cống qua đường trên dọc tuyến đường trong các khu sản xuất nông nghiệp có các hệ thống kênh dẫn nước tưới, tiêu cắt ngang. Năm lớp túi địa kỹ thuật trong chứa đá xếp hai bên tạo thành trụ và tường bên của cống (hình 15). Sử dụng gỗ (Bạch đàn, tre...) có đường kính 10 cm xếp hai lớp tạo trần cống và trên xếp 1 lớp túi địa kỹ thuật và rải sỏi trên mặt tạo mặt đường. Với dạng thiết kế như vậy cống chịu một tải trọng phân phối của xe tải 2,5 tấn. Trong quá trình sử dụng tre hoặc gỗ có thể mục nát vẫn có thể tiến hành bảo trì thay thế hệ thống này đơn giản.


Hình 15 : Cắt dọc ngang cống qua đường

VII. KẾT LUẬN

Qua thực tế áp dụng thử nghiệm để cải tạo hệ thống đường không trải nhựa nông thôn cho thấy: có thể ứng dụng túi vải địa kỹ thuật ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam do các ưu điểm sau [1], [2], [4], [6]:

- Hệ thống đường giao thông loại A và B chủ yếu là các loại đường trong các khu sản xuất nên ảnh hưởng của nước mặt cũng như nước ngầm là khó tránh khỏi. Nếu sử dụng các công nghệ như mặt đường nhựa, đường bê tông và đường đất đều khó tránh khỏi sự lún sụt của móng đường do mực nước ngầm. Khi sử dụng giải pháp túi địa kỹ thuật kết hợp với đá, sỏi và các vật liệu địa phương sẽ khắc phục được điều này.

- Với hệ thống hạ tầng đường nông thôn thì ứng dụng túi địa kỹ thuật sẽ giải quyết triệt để trong việc sửa chữa cục bộ các điểm lầy thụt trên đường đất.

- Tận dụng được tối đa vật liệu địa phương và các sản phẩm phụ của sản xuất nông nghiệp.

- Công tác thi công đơn giản không cần các thiết bị thi công phức tạp. Sử dụng được lao động thủ công.

- Giá thành thi công thấp khoảng 600 triệu đồng/1Km đường với bề rộng từ 3,5 đến 4,0m

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Fukubayashi, Y.and Kimura, M: Participatory Method to Maintain the Unpaved Rural Access Roads with Donou in Developing Countries, Proc. of the 13th Asian Regional Conference of Soil Mechanics and Geotechnical Engineering, Kolkata, 2007, pp.419-422.

[2]. Kimura, M. and Fukubayashi, Y.: Civil engineering in tackling poverty reduction by labor-based road maintenance technology,Proc. of thePhilippines-Japan Int. Symp. On Urban-Rural Environmental Sustainability and Scio-economic Development, Laoag, Philippines, 2009, pp.55-63.

[3]. Kimura, M., Fukubayashi, Y. and Kiptanui J. A. Too : Civil Engineering in Tackling Poverty in Rural East Africa, Proc. of the 2nd International Civil Engineering Conference on Civil Engineering and Sustainable Development, Mombasa, 2008, pp.927-937.

[4]. Nguyễn Quốc Dũng, Ngô Anh Quân, Đỗ Viết Thắng - Báo cáo kết quả thử nghiệm tại Huyện Ứng Hòa - Viện Thủy Công - Hà nội - 2010.

[5]. Nguyễn Ngọc Đông - Giao thông nông thôn trong công cuộc xây dựng nông thôn mới và hiện đại hóa nông thôn - Bộ GTVT - 2012.

[6]. Ngô Anh Quân, Đỗ Tuấn Anh - Thiết kế kỹ thuật tuyến đường D16, D16 hệ thống giao thông nông thôn xã Chuyên Ngoại - Duy Tiên - Hà Nam - Viện Thủy Công, 2012.

 Tác giả: TS. Ngô Anh Quân - Viện Thủy công

 
 
Các bài liên quan
 Khung vây cọc ván thép - Giải pháp công nghệ trong thi công các công trình kiểm soát triều khu vực thành phố Hồ Chí Minh (16/12/2013)
 Giải pháp tự động hóa giám sát, điều khiển và vận hành hệ thống thủy lợi phục vụ nuôi trồng thủy sản theo hướng công nghiệp (18/11/2013)
 Ứng dụng công nghệ lọc sinh học vật liệu nổi để xử lý nước thải nhà máy chế biến thủy sản (28/10/2013)
 Tái sử dụng nước thải - Giải pháp hiệu quả trong xử lý môi trường tại các vùng nông thôn mới (30/09/2013)
 Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Sơn La (22/07/2013)
Thông báo
 Bảo vệ luận án Tiến sỹ cấp Viện (NCS. Nguyễn Tuấn Anh) [12/11/2018]
 Bảo vệ luận án Tiến sỹ cấp Viện (NCS. Nguyễn Xuân Lâm) [18/10/2018]
 Bảo vệ luận án Tiến sỹ cấp Viện (NCS. Nguyễn Quang An) [18/10/2018]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 79
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 30,546,639
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR