Trang chủ   Email   Sơ đồ site
Thứ năm 20/06/2019 12:00:22   Tiếng việt   English  
 
Tin nổi bật
 Khai mạc Diễn đàn chuyên đề quản lý tài nguyên nước, lũ lụt, xâm nhập mặn, ứng phó với sụt lún, sạt lở ở vùng ĐBSCL 
 Thủ tướng chủ trì Hội nghị đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với BĐKH 
 Tạp chí Khoa học và Công nghệ Thủy lợi số 53 năm 2019 
 Đăng ký tham gia các khóa học bồi dưỡng trung hạn năm 2019 
 Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2019 
 Giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Viện năm 2019 
 
  Hoạt động SXKD & Tiếp thị  
Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Sơn La
Sơn La là một tỉnh miền núi chịu ảnh hưởng của nhiều loại hình thiên tai, trong đó có lũ quét và sạt lở đất. Lũ quét và sạt lở đất là tác nhân làm chậm tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Sơn La, nó không chỉ làm thiệt hại tới tài sản của nhân dân. Bài viết giới thiệu phương pháp GIS xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất cho toàn tỉnh, làm cơ sở cho việc xây dựng chiếnl ược lâu dài về phòng chống thiên tai.
 

I. TÌNH HÌNH LŨ QUÉT VÀ SẠT LỞ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA VÀ VẤN ĐỀ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CẢNH BÁO

1. Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây trên địa bàn tỉnh Sơn La chịuảnh hưởng của nhiều loại hình thiên tai do các nguyên nhân gây nên như giá rét, tố lốc, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn kéo dài, mưa đá và đặc biệt là lũ ống, lũ quét gây sạt lở đất.Lũ quét là loại hình thiên tai phổ biến trên địa bàn tỉnh. Lũ quét chính là tác nhân làm chậm tiến trình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Sơn La, nó không chỉ làm thiệt hại tới tài sản của nhân dân của xã hội mà còn gây thiệt hại tới tính mạng của nhân dân. Lũ quét là loại lũ có tốc độ rất lớn, xuất hiện bất ngờ, xảy ra trên một diện tích hẹp, duy trì trong thời gian ngắn, mang nhiều bùn cát và có sức tàn phá lớn. Nó khác với lũ thống thường bởi nó có động lực lớn, diễn ra trong thời gian ngắn trên sườn dốc lớn… nên không có số liệu đo đạc thực tế những trận lũ đã xảy ra đã làm cho vấn đề dự báo được thời điểm xảy ra lũ quét tương đối khó khăn. Hiện nay, trên thế giới đã xây dựng và ứng dụng nhiều phương pháp dự báo, cảnh báo lũ quét nhưng mức độ chính xác chưa cao và chi phí khá tốn kém mặc dù các thông tin đo đạc tương đối đầy đủ. Ở Việt Nam và đặc biệt Sơn La là tỉnh miền núi còn nghèo, thiếu thông tin cơ bản và khó áp dụng các phương pháp hiện đại của thế giới. Phương pháp GIS là phương pháp hiện đại và đang được ứng dụng nhiều ở Việt Nam bởi cho kết quả cảnh báo có thể chấp nhận được và các số liệu hiện tại đảm bảo cho việc sự dụng công nghệ này.Việc xây dựng bộ bản đồ phân vùng lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn tỉnhSơn La sẽ góp phần giảm đến mức thấp nhất thiệt hại về người và tài sản khi xảy ra lũ quét và sạt lở đất. Xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất sẽ là cơ sở để xây dựng quy hoạch các ngành kinh tế khác như quy hoạch tái định cư, quy hoạch phát triển giao thông và cơ sở hạ tầng khác góp phần quan trọng bảo đảm phát triển bền vững kinh tế- xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội của tỉnh.

2. Tình hình lũ quét trên địa bàn tỉnh Sơn La

Tỉnh Sơn La trong những năm qua cũng phải hứng chịu nhiều trận lũ quét gây thiệt hại đáng kể cho con người và tài sản. Chỉ tính từ năm 1990 trở lại đây, trên địa bàn tỉnh Sơn La đã xảy ra hàng chục trận lũ quét với cường độ mạnh. Sau đây là những trận lũ quét điển hình:

1. Trận lũ quét tại Thành phố Sơn La ngày 27/7/1991.

Suối Nậm La có chiều dài là 15,1 km, độ dốc bình quân lưu vực 45.2%. Do ảnh hưởng của xoáy thấp Bắc Bộ đã gây mưa lớn cục bộ. Lượng mưa ngày 27/7 đo được tại trạm Bản Mẩy là 257,4mm. Biên độ lũ từ 3 đến 5 mét. Do hạ lưu suối, đoạn qua Thành phố bị thu hẹp do hang động và đô thị hoá mạnh đã làm tắc nghẽn dòng chảy gây ngập lụt lớn, diện rộng từ Hua La đến Chiềng Xôm. Trận lũ này gây thiệt hại: 21 người chết, 11 người mất tích, 100 ngôi nhà bị cuốn trôi, 762 nhà bị ngập, trôi 12 cầu (9 cầu treo), sập 3 cầu sắt, bê tông, 5.000 ha lúa, hoa màu bị hư hại.

2. Trận lũ quét tại Thị trấn Mai Sơn ngày 27/7/1991.

Cũng do xoáy thấp Bắc Bộ như trên đã gây mưa lớn trên lưu vực suối Nậm Pàn thuộc thị trấn Mai Sơn. Lượng mưa trong 2 ngày 26 và 27/7 đo được 291,1mm. Hạ lưu suối do nhiều nhập lưu và đô thị hoá mạnh đã gây nghẽn dòng tạo nên ngập lụt cho các xã ven suối Nậm Pàn. Thiệt hại: 16 người chết, 200 ngôi nhà bị cuốn trôi, 6 cầu treo bị đổ, làm hỏng 2 đập cao 10m, 3 đập cao 5m, 5 đập rọ thép, 1 đập xây, 50 phai gỗ, sạt lở 12.000m3 đất, lấp 165 ha lúa, màu, đổ hệ thống cột điện 35 KV.

3. Lũ quét trên diện rộng của tỉnh Sơn La ngày 9/8/1994.

Mưa lớn đã xảy ra trên toàn tỉnh Sơn La. Lũ quét đã gây thiệt hại nặng nhất là các huyện Sông Mã, Thuận Châu, Mường La, Yên Châu, Thành phố Sơn La và huyện Mộc Châu. Tổng thiệt hại: 4 người chết, 8 người bị thương, 300 nhà bị ngập, 390 ha lúa bị ngập hư hại, 5 cầu treo bị hỏng. Ước tính thiệt hại 2 tỷ 791 triệu đồng.

4. Trận lũ quét tại Thị trấn Mai Sơn ngày 25/7/1996.

Cơn bão số 2 năm 1996 gây mưa lớn trên lưu vực suối Nậm Pàn, Nậm Bú. Trong 3 ngày từ 23 đến 25/7 lượng mưa đo được tại trạm Chiềng On là 249,9mm, gây ngập lụt các xã ven suối từ cầu Hát Lót về hạ lưu với cường suất lũ là 118cm/h tại Hát Lót. Lũ gây thiệt hại lớn cho nhân dân các xã dọc theo suối Nậm Pàn.

5. Trận lũ quét tại Thành phố Sơn La ngày 16/8/1996.

Mưa lớn gây nên do áp thấp nhiệt đới ở biển Đông trên lưu vực suối Nậm La. Lượng mưa 2 ngày 15 và 16/8 là 140,8mm gây ngập lụt các thung lũng ven suối đến Chiềng Xôm thuộc Thành phố Sơn La với biên độ lũ 2,33m, cường suất lũ 90 cm/h tại cầu 308. Lũ gây thiệt hại lớn cho nhân dân dọc suối.

6. Trận lũ quét tại xã Mường Bú và Ít Ong, huyện Mường La ngày 26/4/1999 (thuộc lưu vực Nậm Mu (suối Trai).

Mưa lớn gây lũ quét tại 2 xã trên vào lúc 20 giờ ngày 26/4/1999. Thiệt hại: chết 2 em bé 7 tuổi và 5 tuổi, 1 người bị thương, cuốn trôi nhiều nhà cửa và phá vỡ 4.000 m2 ao hồ. Ước tính thiệt hại gần 2 tỷ đồng.

7.  Lũ quét tại Thành phố Sơn La và huyện Sông Mã ngày 2/6/1999.

Mưa lớn gây lũ quét vào đêm 2/6/1999 tại Thành phố Sơn La (Nậm La) và huyện Sông Mã. Thiệt hại: Vỡ đập tràn Nà Hin, trôi 11 phai, hỏng 4 cầu treo, bồi lấp 200 ha lúa, 52 nhà bị ngập hoặc đổ, đường 105 bị sạt lở nhiều đoạn.

8. Trận lũ quét tại huyện Mộc Châu và thị trấn Yên Châu ngày 05/7/2007

Từ ngày 4 đến 5/10/2007 mưa to hầu khắp các địa bàn trong tỉnh, đặc biệt tại Mộc Châu lượng mưa đạt 420 mm gây lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn Mộc Châu và Yên Châu. Thiệt hại: 09 người chết, bị thương 28 người, mất tích 01 người, 185 nhà bị sập đổ, 102 nhà bị ngập, bồi lấp, cuốn trôi 1.584 ha lúa, phá hỏng 61 đập xây, 295 phai rọ thép, 546 phai tạm, 104 km kênh và nhiều công trình hạ tầng cơ sở bị phá hỏng. Tổng mức thiệt hại 271 tỷ đồng.

9. Trận lũ quét tại huyện Mai Sơn và TP Sơn La  ngày 26/9/2008

Mưa lớn gây lũ quét vào ngày 26/9/2008 tại huyện Mai Sơn và TP Sơn La. Thiệt hại: 35 người chết, 40 người bị thương, 390 nhà bị sập, cuốn trôi, hư hỏng 1.299 nhà, 618 nhà bị ngập, vùi lấp, cuốn trôi 2.085 ha lúa, 13.911 tấn lương thực, làm hư hỏng nặng 09 hồ chứa, 28 đập xây, 72 phai. Tổng mức thiệt hại 570 tỷ đồng.

II. ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ GIS XÂY DỰNG BẢN ĐỒ CẢNH BÁO LŨ QUÉT VÀ SẠT LỞ ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH SƠN LA

1.Các phương pháp xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và trượt lở đất

Để xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và trượt lở đất có nhiều phương pháp, có thể kể đến các phương pháp như:

- Phương pháp phân tích nhân tố: việc xây dựng bản đồ dựa trên các bước:

 Xác định các nhận tố tổng hợp bằng phương pháp phân tích nhân tố

+ Xác định chỉ số định lượng tổng hợp

+ Xác định các biên phân vùng dựa trên chỉ số định lượng

+ Phân vùng nguy cơ lũ quét

- Phương pháp tổng hợp địa lý: phương pháp này chủ yếu dựa trên độ lớn của lũ, độ dốc lòng sông để phân vùng nguy cơ xảy ra lũ quét.

- Phương pháp chồng chập bản đồ: phương pháp này gần giống với phương pháp phân tích nhân tố. Tuy nhiên, phương pháp này cho chúng ta nghiên cứu các quan hệ không gian theo chiu thng đứng, tìm ra các strùng hp lãnh th, to ra các tng hp thlãnh thcó sự đồng nht vhai hay nhiu yếu t. Đối vi vic chng xếp các lp bn đồ đa giác thì có 3 hình thc khác nhau, đem li nhng kết qukhác nhau.

2. Ứng dụng công nghệ GIS xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất trên địa bàn tỉnh Sơn La

Để xây dựng  bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất sử dụng phương pháp chồng chập bản đồ với sự trợ giúp của công nghệ GIS và phần mềm ARCGIS 9.1.

Dựa trên phương pháp GIS và việc phân tích các nhân tố chịu ảnh hưởng, sẽ xây dựng được bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất với các mức độ khác nhau từ không có nguy cơ xảy ra đến mức độ nguy cơ xảy ra cao nhất cho các khu vực trên địa bàn tỉnh.

2.1.Giới thiệu về công nghệ GIS và phần mềm ARCGIS 9.1

Công nghệ GIS là một công nghệ được tích hợp từ công nghệ máy tính và công nghệ bản đồ. Từ khi ra đời, ứng dụng GIS ngày càng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống trong đó việc ứng dụng công nghệ này trong việc xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo.

ArcGIS là một phần mềm đuợc sử dụng phổ biến nhất trên thế giới, với ứng dụng chủ yếu là phân tích, khai thác các thông tin địa lý. ArcGIS là một công cụ thật sự mạnh trong việc thành lập bản đồ chuyên nghiệp, tập hợp phân tích dữ liệu...

Nhằm đáp ứng yêu cầu giải quyết các bài toán đa dạng trong GIS, các ứng dụng chuyên biệt chạy trên nền ArcGIS Desktop. ArcGIS Desktop Extension là các ứng dụng chuyên biệt cho chuyển đổi, thống kê, phân tích dữ liệu, phân tích ba chiều, v.v… được thiết kế cho nhiều bài toán GIS.

2.2. Các nguồn thông tin tài liệu

Các tài liệu dùng để nghiên cứu, phân tích phân vùng lũ quét bao gồm:

- Tài liệu điều tra, khảo sát các trận lũ quét và trượt lở đất trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Sơn La.

- Tài liệu đo đạc lương mưa các trạm khí tượng trên địa bàn tỉnh Sơn La.

- Tài liệu mặt đệm bao gồm:

+ Thảm phủ thực vật

+ Độ dốc địa hình

+ Đất: Độ bở rời và khả năng liên kết của đất

+ Địa chất: mức độ phong hóa của đất

Các bản đồ trên có tỷ lệ 1: 50.000 do Trung tâm tư liệu đo đạc và bản đồ cấp nên chất lượng bản đồ tương đối tốt. Vì vậy, các loại bản đồ này hoàn toàn đủ độ tin cậy làm số liệu đầu vào phục vụ cho việc xây dựng bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét và trượt lở đất.

Những thông tin, tài liệu thu thập dựa vào phân tích chủ yếu biểu thị điều kiện tự nhiên. Các điều kiện địa phương, đặc thù đôi khi quyết định khả năng xuất hiện, và tính chất của lũ quét cần phải được nghiên cứu bổ sung.

2.3. Kỹ thuật phủ thông tin trên khu vực nghiên cứu

Tài liệu khí tượng như lượng mưa thu thập trên các trạm là rời rạc, phân bố rất không đều theo không gian vì vậy cần phải xây dựng các bản đồ phân vùng hay bản đồ đường đồng mức. Ở đây, lượng mưa một ngày lớn nhất được xây dựng dưới dạng các đường đồng mức.

Trên cơ sở các bản đồ xây dựng, kỹ thuật phủ thông tin trên khu vực nghiên cứu được tiến hành bằng cách:

- Chọn các đặc trưng biểu thị

- Phân cấp các đặc trưng

- Tính các đặc trưng theo các cấp và gán các đặc trưng vào các ô lưới với kích thước ô lưới 30 x 30 m.

2.4. Phân cấp các nhân tố

Các đặc trưng được phân làm 4 cấp theo mức độ ảnh hưởng đến quá trình hình thành lũ quét khác nhau.

Các bản đồ được sử dụng là:

- Bản đồ đẳng trị lượng mưa một ngày lớn nhất

- Bản đồ độ dốc bề mặt

- Bản đồ hiện trạng thảm phủ thực vật

- Bản đồ đất

- Bản đồ phong hóa đất

a. Lượng mưa một ngày lớn nhất:

+ Xác lập ngưỡng mưa sinh lũ quét:

Theo kết quả tổng hợp 10 năm khảo sát điều tra lũ quét: thời khoảng (giờ)1,3,6,12,24 tương ứng là ngưỡng mưa sinh lũ quét 100,120,140,180,200,220 mm. Ngưỡng mưa gây lũ quét Xq, là giới hạn lượng mưa ngày lớn nhất mà từ đó tốc độ dòng chảy lũ hay tốc độ xói mòn đất tăng đột biến.

Xq = f (kết cấu đất đá, độ dốc địa hình, tầng thảm phủ…)

Giá trị Xq có quan hệ với chỉ số xói mòn do mưa R. R là đặc trưng định lượng tiềm năng xói mòn của mưa. R là tích số giữa động năng mưa E(J/m2) và cường độ mưa lớn nhất 30phút, I30 mm/h.

            (KJ/m2.mm/h » N/h)

tính R cho 5 lưu vực nghiên cứu xói mòn và lập quan hệ giữa X1max=f(R) và cho ngưỡng mưa gây lũ quét của 5 lưu vực đó:

            Xqmin = 150 mm/ngày

            Xqmax = 250 mm/ngày

Có thể coi Xqmin = 150 mm/ngày là giá trị ngưỡng mưa nhỏ nhất gây lũ quét làm giới hạn dưới.

+ Phân cấp lượng mưa một ngày lớn nhất:

Lượng mưa càng lớn thì khả năng sinh lũ quét càng cao. Có thể phân cấp lượng mưa một ngày lớn nhất theo các cấp sau:

            Cấp 1: X1max ≥ 250 mm

            Cấp 2: 200 < X1max < 250 mm

            Cấp 3: 150 < X1max < 200 mm

            Cấp 4: X1max <150 mm

b. Bản đồ độ dốc bề mặt lưu vực

Chúng ta biết rằng nước lũ chuyển động từ nơi cao đến nơi thấp và đó là lẽ tự nhiên. Song, lũ quét có đặc tính nhanh, mạnh, ác liệt thì dễ xảy ra nơi địa hình bị chia cắt mạnh, sườn dốc lớn, ít vật cản và thậm chí ở nền địa hình yếu, dễ xói mòn, sụp lở. Nhiều nơi, núi và thung lũng tạo thành những phễu hút gió ẩm trên nền mưa lớn diện rộng thành các tâm mưa có cường độ rất lớn. Như vậy phải có sự trùng hợp thuận lợi phát sinh lũ quét giữa hai yếu tố địa hình và yếu tố khí hậu.

Độ dốc bề mặt lưu vực càng lớn thì khả năng sinh lũ quét và trượt lở đất càng cao. Có thể phân độ dốc bề mặt lưu vực theo 4 cấp như sau:

            Cấp 1: J ≥ 30 0

            Cấp 2: 200< J < 30 0

            Cấp 3: 100< J < 200

            Cấp 4: J < 100

c. Bản đồ đất

Đất là một nhân tố chủ yếu của mặt đệm. Khảo sát các nhóm nhân tố tạo nên lũ quét đã đi đến nhận xét rằng: Mưa là điều kiện cần, còn mặt đệm là điều kiện đủ. Điều kiện mặt đệm chi phối mạnh mẽ quá trình hình thành lũ. Mặt đệm ảnh hưởng đến lượng tổn thất dòng chảy lũ. Tổn thất dòng chảy lũ bao gồm quá trình thấm, điền trũng, ngưng chặn bởi lớp phủ thực vật và bốc hơi. Thấm giữ vai trò quan trọng nhất mà chủ yếu do đất quyết định.

Kết quả khảo sát thực địa và phân tích tài liệu có thể nhận thấy rằng: Quá trình hình thành lũ quét gồm các giai đoạn xảy ra vừa song song vừa kế tiếp sau:

-  Mưa lớn

-  Nước lũ tràn ngập các sườn dốc đổ vào sông suối

-  Xói mòn, sạt lở, phá sập và cuốn trôi các vật cản trên đường lũ đi qua

-  Tích đọng, bồi lấp các vật rắn ở các lũng sông, ruộng, nương, bờ bãi… và rút nước đi.

Như vậy, đất ảnh hưởng trực tiếp đến hình thành lũ quét ở cả hai pha: pha rắn và pha lỏng.

Đất sẽ được phân theo khả năng thấm của đất như sau:

Cấp 1: Thấm nhiều: Đất cát, cát pha, đất mùn, đất thịt nhẹ

Cấp 2: Thấm trung bình: Đất thịt trung bình, sét pha cát

Cấp 3: Thấm ít: Đất thịt nặng, đất sét mịn

Cấp 4: Thấm rất ít: Núi đá, đất sét và đất thịt nặng

Từ các phân tích ở trên, đã chia thành các nhóm đất có mức thấm nước giảm dần ( hay khả năng sinh dòng chảy tăng dần) theo 4 cấp như trên:

- Nhóm 1: là nhóm bao gồm các loại đất cát, đất phù sa, đất dốc tụ ở vùng thấp, ven thung lũng sông gồm:

+ Đất  phù sa

+ Đất lầy

+ Đất đen cacbonat

+ Đất dốc tụ

- Nhóm 2: Các loại đất đỏ vàng có mức độ thấm nước cao, với thành phần cơ giới là đất cát, cát pha đất thịt nhẹ, hoặc đất thịt nhưng kết cấu tơi xốp, dễ thoát nước.

+ Đất đỏtrên đá macma bazơ và trung tính

+ Đất đỏ nâu trên đá vôi

+ Đất vàng nhạt trên cát kết

+ Đất vàng đỏ trên macma axit

+ Đất đỏ vàng trên đá biến chất

- Nhóm 3: Các loại đất mùn có thành phần cơ giới nặng, nhưng có cấu trúc tơi xốp,  giữ nước tốt và các loại đất mùn có thành phần cơ giới nhẹ, tơi rời.

+  Đất mùn đỏ trên macma bazơ và đá vôi.

+  Đất mùn đỏ vàng trên đá sét và biến chất

+  Đất mùn vàng nhạt và đỏ vàng trên đá macma axit và đá cát.

+  Đất đỏ vàng trên đá sét. 

- Nhóm 4: Thấm rất ít, gồm núi đá, đất xói mòn trơ sỏi đá, các loại đất đỏ vàng có thành phần cơ giới là đất sét, đất thịt nặng, có tầng đất mỏng, kết cấu kém bền, ít tơi xốp,  dễ sinh dòng chảy, hoặc các loại đất mùn có thành phần cơ giới nhẹ, thoát nước nhanh, giữ nước kém, có ở trên địa hình dốc, hiểm trở, độ cao từ 1800m trở lên, gồm có:

+ Núi đá

+ Đất xói mòn trơ sỏi đá

+ Đất mùn Alit.

d. Bản đồ thảm phủ thực vật

Lớp phủ thực vật ảnh hưởng khá lớn đến khả năng tập trung dòng chảy sườn dốc và vì vậy ảnh hưởng đến khả năng sinh lũ quét và trượt lở đất. Lớp phủ thực vật được phân theo hiện trạng sử dụng đất như sau:

Cấp 1: Đất trống và núi đá

Cấp 2: Đất nông nghiệp trồng cây ngắn ngày

Cấp 3: Rừng tre nứa, rừng hỗn giao, rừng trồng mới, rừng lá rộng thường xanh thưa

Cấp 4: Rừng giàu, rừng lá rộng thường xanh kín và trung bình.

e.Bản đồ địa chất

Đối với địa chất, có thể căn cứ vào mức độ phong hóa đất để chia làm các mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh lũ quét. Có thể chia làm 4 cấp độ như sau:

-  Cấp 1: Các thành tạo địa chất phong hóa mạnh

-  Cấp 2: Các thành tạo địa chất phong hóa trung bình

-  Cấp 3: Các thành tạo địa chất phong hóa yếu

-  Cấp 4: Các thành tạo phong hóa cacbonat

Qui trình xây dựng bản đồ cảnh báo lũ quét và trượt lở đất được thực hiện theo các bước sau:

Dựa trên qui trình xây dựng trên, chúng tôi đã xây dựng được bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét với việc coi các yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh lũ quét là như nhau. Kết quả đã đưa ra bản đồ phân vùng nguy cơ xảy ra lũ quét và trượt lở đất theo các mức độ khác nhau. Kết quả có thể chấp nhận được. Tuy nhiên, để có kết quả tốt hơn và đánh giá đúng mức sự ảnh hưởng của các nhân tố, đã dựa trên hiện trạng các vị trí lũ quét và trượt lở đất đã xảy ra theo kết quả điều tra của Viện Địa chất và Môi trường năm 2008 và sử dụng các trọng số của các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành lũ quét trên địa bàn tỉnh Sơn La để hiệu chỉnh trong quá trình chồng chập bản đồ sao cho mức độ gây ra lũ quét lớn nhất phù hợp với tình hình lũ quét đã xảy ra. Sau nhiều quá trình hiệu chỉnh, kết quả đạt được là tương đối khả quan. Các trọng số sau khi hiệu chỉnh của các nhân tố ảnh hưởng tới sự hình thành lũ quét như sau:

Bảng 1: Trọng số các nhân tố ảnh hưởng đến hình thành lũ quét

 

TT

 

Nhân tố ảnh hưởng

 

Trọng số ban đầu

 

Trọng số sau khi hiệu chỉnh

1

 

Độ dốc địa hình

 

0.2

 

0.25

 

2

 

Lượng mưa

 

0.2

 

0.28

 

3

 

Sử dụng đất

 

0.2

 

0.20

 

4

 

Hiện trạng rừng

 

0.2

 

0.17

5

Phong hóa đất

0.2

0.10

 

Tổng

 

 

1.00

 

1.00

2.5. Kết quả xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất

Kết quả của việc tính toán xây dựng bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và trượt lở đất tỉnh Sơn La được đưa ra dưới 2 hình thức: Bản đồ và các bảng biểu.

Dạng bản đồ

Bản đồ cảnh báo lũ quét và sạt lở đất được xây dựng dựa trên việc phân cấp với 4 mức độ nguy cơ xảy ra lũ quét là: không có nguy cơ xảy ra, nguy cơ xảy ra thấp, nguy cơ xảy ra trung bình và nguy cơ xảy ra cao. Căn cứ vào các mức độ xảy ra trên bản đồ để đưa ra các cảnh báo cho người dân khi xảy ra diễn biến thời tiết xấu, đặc biệt khi xảy ra mưa với cường độ lớn trong thời gian ngắn.

Bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất được xây dựng cho toàn tỉnh Sơn La và chi tiết cho các huyện với các tỷ lệ sau:

- Bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất toàn tỉnh tỷ lệ 1/100.000

- Bản đồ phân vùng cảnh báo lũ quét và sạt lở đất chi tiết cho các huyện tỷ lệ 1/50.000.

Trên mỗi bản đồ các thông tin cảnh báo lũ quét và sạt lở đất được ghi rất đầy đủ gồm: Phạm vi các vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất khác nhau, diện tích của từng vùng, tên của các thôn bản, xã phường nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất rất cao.

Qua kết quả phân tích và xây dựng bản đồ lũ quét, sạt lở đất và dựa trên các khu vực có nguy cơ xảy ra lũ quét cao trên bản đồ nhận thấy các huyện, xã có nguy cơ xảy ra lũ quét và trượt lở đất cao như sau:

-       Thành phố Sơn La: Xã Chiềng Ngần, P.Quyết Thắng, Chiềng Xôm, Chiềng Cơi, Hua La, Chiềng Sinh.

-       Huyện Quỳnh Nhai: Mư­ờng Chiên, Pha Khinh, Chiềng Ơn, Cà Nàng. 

-       Huyện Yên Châu: Chiềng Sàng, Chiềng Đông, Chiềng Hặc, Xập Vạt, Tú Nang, Chiềng Pằn, Viêng Lán.                   

-       Huyện Mộc Châu: M­ường Tè, Vân Hồ, Tân Hợp, Xuân Nha,  Phiêng Luôn, Nà Mường, Chiềng Hắc, M­ường Sang.

-       Huyện Sông Mã: Chiềng Cang, Mường Cai, Chiềng Khoong, Yên H­ưng, M­ường Hung, Nậm Ty,  Chiềng Khư­ơng.

Huyện Phù Yên: M­ường Do, Bắc Phong, Suối Bau, Đá Đỏ. 

Dạng bảng biểu

Kết hợp với bản đồ phân vùng lũ quét, để các nhà quản lý có thể nắm được cụ thể chi tiết được từng thôn, bản, xã phường nằm trong vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất rất cao, đã đưa ra các bảng thông số về những vùng này. Trong bảng thống kê chi tiết tên thôn bản, xã, phường, huyện và diện tích vùng có nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất rất cao.

 

III. KẾT LUẬN

Dựa trên các vị trí điều tra lũ quét và sạt lở đất đã xảy ra, cùng với việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng có sự hiệu chỉnh trên phần mềm ARCGIS đã xây dựng được bản đồ cảnh báo nguy cơ xảy ra lũ quét và sạt lở đất một cách nhanh chóng và có độ chính xác cao cho tỉnh Sơn La. Cùng với việc lồng ghép nhiều lớp thông tin trên bản đồ giúp cho các nhà quản lý dễ dàng quản lý và ra quyết định các giải pháp phòng tránh khi loại hình thiên tai đó có thể xảy ra.

Trên cơ sở kết quả nghiên cứu phân vùng nguy cơ lũ quét và sạt lở đất sẽ lắp đặt hệ thống cảnh báo, biển cảnh báo lũ quét và sạt lở đất tại những vùng có nguy cơ cao.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 [1]. PGS.TS Nguyễn Ngọc Quỳnh, Ths. Đào Văn Khươngvà nnk“Quy hoạch phòng chống lũ, bão và giảm nhẹ thiên tai trên địa bàn tỉnh Sơn la từ năm 2010 đến năm 2015 và tầm nhìn đến năm 2020”,Phòng thí nghiệm trọng điểm QG về động lực học sông biển, 2010.

[2]. PGS.TS Cao Đăng Dư, PGS.TS. Lê Bắc Huỳnh, Lũ Quét ,“Nguyên nhân và biện pháp phòng tránh”, NXB Nông Nghiệp, 2000.

Tác giả: KS. Hà Quyết Nghị - Sở NN&PTNT tỉnh Sơn La
      ThS. Đào Văn Khương, ThS. Nguyễn Mạnh Linh - Phòng TNTĐ QG về ĐLHSB


  Nguồn: Tạp chí KH&CN Thủy lợi Viện KHTLVN

 

 

 
 
Các bài liên quan
 Bơm capsule, Một dạng kết cấu mới của Bơm hướng trục đặt chìm thích hợp cho đồng bằng ven biển và đồng bằng sông Cửu Long (11/06/2013)
 Công nghệ SCADA - Giải pháp hiện đại hóa công tác quản lý, điều hành tưới tiêu ở Việt Nam (25/04/2013)
 Ứng dụng công nghệ bê tông tự lèn trong thi công đập xà lan di động cho các công trình thủy lợi vùng triều (26/02/2013)
 Một số kết quả nghiên cứu, ứng dụng công nghệ cống lắp ghép bằng cừ BTCT dự ứng lực trong xây dựng công trình thủy lợi ở đồng bằng sông Cửu Long (14/01/2013)
 Thiết bị lọc nước nhiễm Asen bằng vật liệu Nano - Giải pháp cho nước sạch sinh hoạt ở Việt Nam (27/09/2012)
Thông báo
 Đăng ký tham gia các khóa học bồi dưỡng trung hạn năm 2019 [23/05/2019]
 Lịch xét công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh GS, PGS năm 2019 [26/04/2019]
 Giới thiệu ứng viên tham gia Hội đồng Giáo sư cơ sở Viện năm 2019 [24/04/2019]
 
Văn bản pháp quy
 
 
VIDEO
Xem tiếpxemtiep
 
 
LIÊN KẾT
 
 
THÔNG TIN HỮU ÍCH

Thời tiết



 
 
 
© Cơ quan chủ quản: VIỆN KHOA HỌC THỦY LỢI VIỆT NAMSố người đang online: 261
Địa chỉ: 171 Tây Sơn - Đống Đa - Hà Nội. Điện thoại: 84.43.8522086, Fax: 84.43.5632827 Tổng số người truy cập: 34,508,261
Giấy phép xuất bản số: 200/GP - BC, Cục Báo chí - BVHTT, cấp ngày 02/11/2005  
Ghi rõ nguồn 'Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam' hoặc 'VAWR.ORG.VN' khi bạn phát hành lại thông tin từ Website này.
® Powered by VAWR